Cơm nhà đủ vị

GIA ĐÌNH

Halina Nguyễn

3/1/20268 phút đọc

five gray spoons filled with assorted-color powders near chilli
five gray spoons filled with assorted-color powders near chilli

Nội dung

  • Sự phân bổ Âm - Dương của 6 vị

  • Sáu vị đi vào đâu và nuôi dưỡng bộ phận nào?

  • Thuận tự nhiên: Sáng ăn vị gì, tối ăn vị nấy?

Mình là một người rất mê cơm nhà. Có lẽ dù đi đâu, ăn những gì, mình vẫn thích nhất được trở về nhà, nấu những món mình thích. Mình đã đi qua rất nhiều nền ẩm thực, nhưng có lẽ nền ẩm thực Việt Nam là kết tinh, hội tụ của tinh hoa. Nhiều người ca ngợi nền ẩm thực Trung Hoa, Nhật Bản hay Hàn Quốc, nhưng nếu chúng ta quay về, tìm hiểu sâu hơn nền ẩm thực Việt, có lẽ chúng ta càng thêm yêu văn hoá nước mình.

Bạn có bao giờ để ý, khi chúng ta còn bé, những món ăn bố mẹ nấu thường chứa đựng cả một triết lý âm dương, ngũ hành không? Nấu canh cải (mang tính hàn/âm) với một chút gừng (tính nhiệt/dương) là để trung hoà. Hay trứng vịt (vốn mang tính âm lạnh) rắc thêm chút tiêu cay nồng (tính dương) lại hoá giải hoàn hảo để không bị lạnh bụng. Hoặc như một mâm cơm truyền thống luôn hội tụ đủ ngũ hành: Kim là hạt gạo trắng ngần, Mộc là đĩa rau xanh mướt, Thuỷ là bát canh thanh mát, Hoả là tộ cá kho tiêu đậm đà sậm màu đỏ lửa, và Thổ – chính là vị ngọt lành của đĩa thịt luộc, hay sự mộc mạc của các loại củ quả, đậu phộng rang nơi trung tâm mâm cơm.

Không đâu bằng một bữa cơm nhà, vừa tinh tuý, vừa tinh tế, lại vừa kinh tế. Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhìn sâu hơn vào mâm cơm ấy, để khám phá xem 6 vị cơ bản: Chua, Chát, Đắng, Cay, Mặn, Ngọt đang vận hành trong cơ thể chúng ta như thế nào theo lăng kính Đông Y nhé.

1. Sự phân bổ Âm - Dương của 6 vị

Kiến thức trong bài ngày hôm nay sẽ khác với những bài trước đây mà mình viết, nó không chỉ dựa vào kiến thức Đông y, mà là dựa vào quy luật âm dương từ ngàn đời của ông cha ta trong Ẩm thực. Ba cặp vị: chua - chát, đắng - cay, mặn - ngọt. Được chia làm 2 nhóm: Nhóm mang tính âm và nhóm mang tính dương.

  • Nhóm mang tính Dương (chát, cay, mặn): Giúp sinh nhiệt, sinh năng lượng, thúc đẩy tuần hoàn máu và phát tán khí huyết ra bên ngoài.

  • Nhóm mang tính Âm (chua, đắng, ngọt): Giúp làm mát cơ thể, thanh nhiệt, giữ nước, giải độc và đưa khí huyết đi sâu vào bên trong.

2. Sáu vị đi vào đâu và nuôi dưỡng bộ phận nào?

Khi chúng ta ăn, không phải ngẫu nhiên mà cơ thể lại thèm một vị nào đó. Đó là tiếng gọi của các tạng phủ từ bên trong. Vị là gia vị, là vị trí, là chất định vị, dẫn dinh dưỡng (4 nhóm mà tế bào cần: đạm - đường - tinh bột - chất béo) đến nơi chất dinh dưỡng cần đến, 6 vị này chính là men tiêu hoá là nguồn enzym trong cơ thể. Dưới đây mình phân theo từng cặp, bạn hãy quan sát cơ thể, để dùng đúng theo cặp, ví dụ cặp Chua - Chát, nếu dùng nhiều vị Chua gây tiêu chảy, ta dùng lại vị Chát để trị, nếu chúng ta bị táo bón chúng ta dùng vị Chua để trị.

  • Vị Chua

    • Dẫn năng lượng (dinh dưỡng thức ăn) lên não, giúp não thông, phá tắc nghẽn, làm thông, làm sạch bên trong cơ thể.

    • Nhưng dư chua sẽ gây tiêu chảy, lạnh đại tràng, da cơ nhão, dễ gây rụng tóc, bạc tóc và khô nám da.

  • Vị Chát

    • Dẫn dinh dưỡng xuống 2 chân, ăn chát tuần 3 - 4 lần vào buổi chiều và tối sẽ giúp chân khỏe, tránh suy giãn tĩnh mạch, xương chắc, cơ dây chằng chắc, giúp tóc chắc khỏe, tăng tiểu cầu.

    • Dư chát dễ táo bón, bó vai cơ, gây đau đầu, và dùng nhiều vị chát có thể gây hạ huyết áp đối với những người huyết áp thấp.

  • Vị Đắng

    • Dẫn năng lượng ra da và cơ bắp nội tạng, ăn vị đắng giúp mát da, mát nội tạng, rã mỡ béo, rã đạm, bổ sung diệp lục tố cho túi mật.

    • Tuy nhiên dùng nhiều vị đắng hại tuỷ ( vì thế không nên cho trẻ em uống thuốc đắng), hại tỳ vị gây khó tiêu, vị đắng sẽ xả khoáng làm yếu cơ nhịp tim, đau nhức xương.

  • Vị Cay

    • Dẫn dinh dưỡng vào tủy làm ấm tuỷ xương, vị cay của tiêu sọ sẽ làm ấm vùng xoang mũi (chữa viêm xoang), vị cay của sả làm ấm xương, vị cay của gừng làm ấm đôi chân…

    • Tuy nhiên khi dùng nhiều cay khiến gan nóng, bốc hỏa.

  • Vị Mặn

    • Vị mặn nằm ở tuyến tụy, vị mặn của muối biển cung cấp khoáng, giúp cơ thể tuần hoàn, giữ nước giúp tế bào trao đổi chất, đi vào thận làm ấm thận. Nên sử dụng muối biển, không phải muối tinh luyện.

    • Khi dùng quá nhiều muối sẽ gây nên tiểu ít, tiểu chậm, nước tiểu vàng.

  • Vị Ngọt

    • Dự trữ trong gan, dẫn dinh dưỡng đi vào toàn bộ cơ thể, làm mát và giải nhiệt cho cơ thể. Nuôi hệ thống bạch cầu, là men tiêu hoá, là kháng sinh, là chất giảm đau, là một thành phần quan trọng để nuôi tuỷ. Ngọt là 1 vị đặc biệt mà ngày nay bị gán mác là chất gây nên tiểu đường, thế nên rất nhiều người hạn chế đường, tuy nhiên bạn không cần hạn chế đường, mà nên dùng loại đường tốt từ đường mía nguyên chất, thốt nốt ….

    • Nếu dùng nhiều ngọt sẽ gây lạnh, tiểu nhiều và có thể tiểu đêm, tiểu trong. Khi ăn ngọt cần phải tập luyện để cơ thể đốt cháy nhiệt lượng được cung cấp từ đường.

3. Thuận tự nhiên: Sáng ăn vị gì, tối ăn vị nấy?

Cơ thể chúng ta là một tiểu vũ trụ, vận hành theo nhịp điệu Âm Dương của ngày và đêm. Việc chọn vị thức ăn theo thời gian cũng là một cách dưỡng sinh tuyệt vời.

  • Ban ngày (thời điểm của dương khí): Ban ngày là buổi của não, nên ta ăn những vị tốt cho não, đồng thời buổi sáng dương khí nhiều, ưu tiên những vị có tính âm để trung hoà.

    • Nên ăn: Những món mang vị Ngọt, Chua hoặc Đắng. Các món canh rau dền, canh chua nhẹ, mướp đắng... giúp thanh nhiệt, dưỡng âm, đưa cơ thể vào trạng thái thư giãn. Đồng thời vị ngọt và chua giúp nuôi não, giúp não tỉnh táo hơn khi làm việc. Bạn đừng ngại khi phải dùng vị ngọt (vị ngọt tốt từ đường mía, thốt nốt, trái cây (dùng hạn chế trái cây)), quan sát nước tiểu, nếu nước tiểu đầu ngày và trước bữa ăn trưa mà trong, thì hạn chế ngọt, nhưng nước tiểu vàng, ngoài việc bù nước thì nên cho não thêm chút ngọt.

    • Hạn chế: Vị mặn đối với những người tiểu đêm, vì vị mặn giữ nước cả ngày sẽ làm cho cơ thể xả vào ban đêm.

  • Ban đêm (thời điểm của âm khí): Buổi tối là lúc Dương khí lặn vào trong, cơ thể chuyển sang trạng thái Âm để nghỉ ngơi, phục hồi và an thần.

    • Nên ăn: Những vị có tính Dương để cân bằng với trạng thái Âm của cơ thể như Cay nhẹ, Chát và Mặn. Đặc biệt là vị cay kết hợp với các dưỡng chất cơ thể cần là Đạm - Đường - Tinh bột - Chất béo để tuỷ tạo máu. Đặc biệt với những người hay tiểu đêm, thêm một chút muối biển mặn sẽ hạn chế tiểu đêm. Một nồi canh hầm xương, một dĩa thịt kho hoặc cá kho ngập chất béo sẽ kích thích tuỷ hoạt động.

    • Hạn chế: Những vị mang tính âm mà chúng ta dùng ban ngày. Bữa cơm nhà không chỉ là nơi lấp đầy dạ dày, mà còn là một bài thuốc dưỡng sinh diệu kỳ nếu chúng ta biết lắng nghe và nấu nướng bằng sự thấu hiểu. Lần tới khi vào bếp, bạn hãy thử nêm nếm lại mâm cơm của mình, xem đã đủ vị, đủ ngũ hành chưa nhé!